Bài giảng môn Tiếng Việt Lớp 4 - Tuần 13 - Năm học: 2021-2022 - Trường Tiểu học Lê Thánh Tông
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng môn Tiếng Việt Lớp 4 - Tuần 13 - Năm học: 2021-2022 - Trường Tiểu học Lê Thánh Tông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bai_giang_mon_tieng_viet_lop_4_tuan_13_nam_hoc_2021_2022_tru.pdf
Nội dung tài liệu: Bài giảng môn Tiếng Việt Lớp 4 - Tuần 13 - Năm học: 2021-2022 - Trường Tiểu học Lê Thánh Tông
- Viết xong em dùng bút chì soát lỗi chính tả. Hãy gạch dưới từ viết sai và tổng kết số lỗi vào ô bên phải trên tựa bài viết. Lưu ý: Sai 1 âm đầu, 1 vần của tiếng thì tính 1 lỗi; sai 1 dấu, 1 lỗi viết hoa tính nửa lỗi. Những tiếng sai giống nhau chỉ tính 1 lần. Từ nào viết sai, em hãy chép từ đúng của từ đó lại 3 lần để khắc phục lỗi sai em nhé: III. LUYỆN TỪ VÀ CÂU Mở rộng vốn từ Ý chí - Nghị lực Câu 1 Xếp các từ có tiếng chí sau đây vào hai nhóm trong bảng : chí phải, ý chí, chí lí, chí thân, chi khí, chí tình, chí hướng, chí công, quyết chí. Chí có nghĩa là rất, M: chí phải . hết sức (biểu thị mức độ cao nhất) Chí có nghĩa là ý M: ý chí muốn bền bỉ theo .. đuổi một mục đích tốt đẹp Câu 2: Khoanh vào câu trả lời đúng. Dòng nào dưới đây nêu đúng nghĩa của từ nghị lực ? a) Làm việc liên tục, bền bỉ. b) Sức mạnh tinh thần làm cho con người kiên quyết trong hành động, không lùi bước trước mọi khó khăn. c) Chắc chắn, bền vững, khó phá vỡ. d) Có tình cảm rất chân tình, sâu sắc. Câu 3:Em chọn từ nào trong ngoặc đơn (nghị lực, quyết tâm, nản chí, quyết chí, kiên nhẫn, nguyện vọng) để điền vào ô trống ? Gợi ý: 3
- - Nghị lực: sức mạnh tinh thần tạo cho con người sự kiên quyết trong hành động, không lùi bước trước khó khăn, thử thách. - Quyết tâm: Cố gắng thực hiện bằng được những điều đã đề ra, tuy biết là sẽ có khó khăn và rất nhiều trở ngại. - Nản chí: Không giữ vững được ý chí, thiếu kiên trì trước khó khăn, trở ngại. - Quyết chí: Có ý chí và quyết tâm làm bằng được. - Kiên nhẫn: Có khả năng tiếp tục làm việc đã định một cách bền bỉ, không nản lòng mặc dù thời gian kéo dài, kết quả còn chưa thấy. - Nguyện vọng: Những điều mong muốn. Nguyễn Ngọc Ký là một thiếu niên giàu............................... Bị liệt cả hai tay, em Buồn nhưng không Ở nhà, em tự tập viết bằng chân .....của em làm cô giáo cảm động, nhận em vào học. Trong quá trình học tập, cũng có lúc Ký thiếu . ..nhưng được cô giáo và các bạn luôn tận tình giúp đỡ, em càng........................................ học hành. Cuối cùng, Ký đã vượt qua mọi khó khăn. Tốt nghiệp một trường đại học danh tiếng, Nguyễn Ngọc Ký đạt......................................... trở thành thầy giáo và được tặng danh hiệu cao quý Nhà giáo ưu tú. IV. Tập làm văn Ôn tập văn kể chuyện Câu 1. Cho ba đề bài sau. Đề bài nào trong ba đề trên thuộc loại văn kể chuyện. Vì sao? - Đề 1: Lớp em vừa có một bạn theo gia đình chuyển đi xa. Em hãy viết thư thăm bạn và kể tình hình học tập của lớp cho bạn em biết. - Đề 2: Em hãy kể một câu chuyện về một tấm gương rèn luyện thân thể - Đề 3: Em hãy tả chiếc áo hoặc chiếc váy em mặc đến trường hôm nay Đề bài thuộc loại văn kể chuyện là: : . Câu 2. Kể một câu chuyện về một trong các đề tài đã cho sau: a) Đoàn kết, thương yêu bạn bè. b) Giúp đỡ người tàn tật 4
- c) Thật thà, trung thực trong đời sống. d) Chiến thắng bệnh tật Bài làm 5
- ĐÁP ÁN MÔN TIẾNG VIỆT – LỚP 4 - TUẦN 13 I. TẬP ĐỌC * Bài: Văn hay chữ tốt Câu 1: Vì sao Cao Bá Quát thường bị điểm kém? - Vì chữ viết xấu quá thầy không đọc được. Câu 2: Sự việc gì xảy ra làm Cao Bá Quát ân hận? - Đó là sự việc bà hàng xóm nhờ ông viết một lá đơn kiện. Quan không đọc được lá đơn vì chữ viết xấu, bèn thét linh đuổi bà khỏi công đường. Bà kể lại câu chuyện cho Cao Bá Quát nghe. Cao Bá Quát vô cùng ân hận Câu 3: Cao Bá Quát quyết chí luyện viết như thế nào? - Từ sự việc trên, ông suy nghĩ "dù văn hay đến đâu ,mà chữ không ra chữ cũng chẳng ích gì" Từ đó ông dốc sức luyện viết chữ. Sáng sáng ông cầm que vạch lên cột nhà luyện chữ cho cứng cáp, buổi tối ông quyết tâm viết xong mười trang vở mới đi ngủ. Ông còn mượn những cuốn sách có kiểu chữ đẹp luyện tập. Nhờ đó mà chữ ông mỗi ngày đẹp ra và nổi tiếng là người văn hay chữ tốt khắp cả nước Câu 4: Tìm đoạn mở bài, thân bài, kết bài của truyện - Đoạn mở bài: Từ đầu đến "cho điểm kém." - Thân bài: Từ "Một hôm" đến"nhiều kiểu chữ khác nhau" - Kết bài: Đoạn còn lại. II. CHÍNH TẢ: Cánh diều tuổi thơ Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều. Chiều chiều, trên bãi thả đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau đi thả diều thi. Cánh diều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi vui sướng đến phát dại nhìn lên trời. Tiếng sao diều vi vu trầm bổng. Sáo đơn rồi sáo kép, sáo bè như gọi thấp xuống những vì sao sớm. III. LUYỆN TỪ VÀ CÂU Mở rộng vốn từ Ý chí - Nghị lực Câu 1 Xếp các từ có tiếng chí sau đây vào hai nhóm trong bảng : chí phải, ý chí chí lí, chí thân, chi khí, chí tình, chí hướng, chí công, quyết chí. Chí có nghĩa là rất, hết sức (biểu thị mức độ cao nhất) chí phải, chí lí, chí thân, chí tình, chí công. Chí có nghĩa là ý muốn bền bỉ theo đuổi một mục đích ý chí, chí khí, chí hướng, quyết chí tốt đẹp 7
- Câu 2 Dòng nào dưới đây nêu đúng nghĩa của từ nghị lực ? Dòng b: Sức mạnh tinh thần làm cho con người kiên quyết trong hành động, không lùi bước trước mọi khó khăn. Câu 3 Em chọn từ nào trong ngoặc đơn (nghị lực, quyết tâm, nản chí, quyết chí, kiên nhẫn, nguyện vọng) để điền vào ô trống ? Nguyễn Ngọc Ký là một thiếu niên giàu nghị lực. Bị liệt cả hai tay, em buồn nhưng không nản chí. Ở nhà em tự tập viết bằng chân. Quyết tâm của em làm cho cô giáo cảm động, nhận em vào học. Trong quá trình học tập, cũng có lúc Ký thiếu kiên nhẫn, nhưng được cô giáo và các bạn luôn tận tình giúp đỡ, em càng quyết chí học hành. Cuối cùng, Ký đã vượt qua mọi khó khăn. Tốt nghiệp một trường đại học nổi tiếng, Nguyễn Ngọc Ký đạt nguyện vọng trở thành thầy giáo và được tặng danh hiệu cao quý Nhà giáo ưu tú. IV. Tập làm văn Ôn tập văn kể chuyện Câu 1. Chọn ba đề bài đã cho. Đề bài nào trong ba đề trên thuộc loại văn kể chuyện. Vì sao? Em chọn đề (2) "Em hãy kể chuyện về một tấm gương rèn luyện thân thể" Vì đề yêu cầu kể một câu chuyện về tấm gương rèn luyện thân thể. Chuyện có nhân vật có cốt truyện có diễn biến các sự việc và ý nghĩa về tấm gương rèn luyện thân thể. (Đề 1 thuộc loại văn viết thư, Đề 3 thuộc loại văn miêu tả) Câu 2. Kể một câu chuyện về một trong các đề tài đã cho sau: a) Đoàn kết, thương yêu bạn bè Bài tham khảo Na là một cô bé tốt bụng, ở lớp, ai cũng mến em. Em gọt bút chì giúp bạn Lan. Em cho bạn Minh nửa cục tẩy. Nhiều lần, em làm trực nhật giúp các bạn bị mệt... Na chỉ buồn vì em học chưa giỏi. Cuối năm học, cả lớp bàn tán về điểm thi và phần thưởng. Riêng Na chỉ lặng yên nghe các bạn. Em biết mình chưa giỏi môn nào. Một buổi sáng, vào giờ ra chơi, các bạn trong lớp túm tụm bàn bạc điều gì có về bí mật lắm. Rồi các bạn kéo nhau đến gặp cô giáo. Cô giáo cho rằng sáng kiến của các bạn rất hay. Ngày tổng kết năm học, từng học sinh giỏi bước lên bục nhận phần thưởng. Cha mẹ các em cũng hồi hộp. Bất ngờ cô giáo nói: - Bây giờ cô sẽ trao một phần thưởng đặc biệt. Đây là phần thưởng cả lớp đề nghị tặng bạn Na. Na học chưa giỏi, nhưng em có tấm lòng thật đáng quý. 8
- Na không biết mình có nghe nhầm không. Đỏ bừng mặt, cô bé đứng dậy bước lên bục. Tiếng vỗ tay vang dậy. Mẹ của Na lặng lẽ chấm khăn lên đôi mắt đỏ hoe. Phỏng theo BLAI-TƠN (Lương Hùng dịch) b) Giúp đỡ người tàn tật Bài tham khảo Hôm đó là thứ ba, trời mưa dai dẳng từ sáng. Tan trường, mưa vẫn nặng hạt, em và các bạn: Thu, Huế, Nga, Minh đứa quàng áo mưa, đứa đi ô cùng chờ nhau đi về. Trên đường về mặc dù trời mưa nhưng chúng em vẫn nói cười rất vui vẻ. Thu thì kể chuyện được điểm cao, nếu trời không mưa chắc chắn bạn ấy đã cho chúng em xem vở rồi, Nga kể lại câu chuyện đạo đức mà lớp Nga vừa đóng kịch, chúng em thấy lý thú, đứa nào cũng hào hứng lắng nghe. Bỗng dưng, tất cả chúng em đứng khựng lại vì thấy một cụ già đang cố gắng sang đường. Cụ không quàng áo mưa mặc dù ngoài trời đang mưa to. Cụ có đội một chiếc nón đã rất cũ rồi, chiếc áo trên người cụ đã ướt sũng, chúng em biết cụ bị dính mưa từ lâu. Có lẽ tất cả 5 đứa em đều tự đặt ra câu hỏi: Sao cụ lại không có áo mưa? Sao không ai đưa cụ đi? Điều đặc biệt, cụ không thể đi lại bình thường, thì ra chiếc lưng cụ còng đi một phần vì cụ chỉ có thể đi lại bằng một chân, chiếc chân kia của cụ đứng vững được là nhờ có náng. Cả 5 đứa, không ai bảo ai, câu chuyện cũng trở nên em bặt, chạy đến chỗ cụ già. Minh đi ô nên Nga vội cởi chiếc áo mưa của mình khoác lên người cho cụ. Minh cũng nhanh nhẹn che ô cho Nga quàng cho cụ áo mưa. Nga nói: Cụ ơi, trời mưa to lắm, cụ khoác chiếc áo mưa này đi ạ! Khuôn mặt cụ đã ướt do chiếc nón không được lành, tôi vội lấy chiếc khăn mùi xoa lau cho cụ, hỏi ra chúng tôi mới biết nhà cụ cách đây 10 cây số, cụ biết tin bạn mình mất nên đã đi từ sáng sớm để viếng thăm, cụ không có con cái và cũng không mang theo tiền nên cứ vậy đi dưới trời mưa trong cái khó khăn, nặng nề của người khuyết tật. Chúng tôi xúc động và thương cụ lắm. Cả 5 đứa, đứa dắt tay cho cụ, đứa chạy đi tìm người lớn nhờ giúp đỡ. Khi có người đến giúp, cụ cũng nắm tay từng đứa và cảm ơn. Chúng tôi đứa nào đứa ấy, khi thấy cụ đã ngồi lên xe an toàn đều lặng lẽ cùng nhau quay về. Có đứa xúc động rưng rưng, nhưng tất cả cũng ấm lòng vì giúp được bà cụ tàn tật gặp khó khăn như vậy. c) Thật thà, trung thực trong đời sống Hôm ấy, em đi chợ mua rau cho mẹ. Hàng cô Loan là hàng rau lớn nhất chợ Hạnh Thông Tây. Cô Loan bán rau củ cả giá bán lẻ và bán buôn nên rất đông khách hàng. Em chào cô Loan rồi đưa tờ giấy ghi các món rau để cô lựa rau cho mẹ. Một vài món rau em biết chọn, em tự lựa và để vào túi ni-lông chờ cô tính tiền. Em mua không nhiều, chỉ độ hơn hai mươi ngàn tiền rau. Em đưa cô Loan tờ giấy bạc năm mươi nghìn. Cô Loan đếm tiền trả lại. Ơ hay, cô trả lại cho em những hai trăm mười 9
- tám ngàn đồng. Có lẽ tờ giấy bạc hai trăm nghìn có màu hơi giống tờ giấy bạc mười nghìn đồng nên cô Loan nhầm lẫn. Em lễ phép thưa: - Thưa cô, cô trả lại tiền cho cháu nhầm rồi. Cháu chỉ đưa cho cô năm mươi nghìn mà! Cô Loan cầm số tiền em đưa lại, rối rít: - May quá, cô cảm ơn con nghen. Con thật thà đáng khen lắm! Cô Loan trả lại đúng tiền cho em, em vui vẻ ra về. Trên đường về nhà, lòng em lâng lâng vui lạ. Em vui sướng vì mình đã thật thà không tham lam số tiền cô Loan trả nhầm. Hôm đó, mẹ rất vui khi nghe em thuật lại chuyện. d) Chiến thắng bệnh tật Anh Danh, kĩ sư trong khu phố em là một tấm gương chiến thắng bệnh tật đáng khâm phục. Anh Danh bị sốt tê liệt từ bé, hai chân không phát triển được bình thường. May mắn là đôi chân bệnh tật ấy tuy nhỏ một chân thấp một chân cao nhưng vẫn co duỗi và đi lại được. Anh Danh ít khi ra ngoài, anh học tập chăm chỉ và rất giỏi. Những năm Trung học anh đều đạt học sinh giỏi. Rồi anh thi đỗ vào trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh, khoa Công nghệ Thông tin. Việc học của anh đôi khi bị gián đoạn vì sức khỏe của anh yếu, thường hay trở bệnh liệt giường. Khi đỡ bệnh, anh đi khập khiễng đến giảng đường trường Đại học. Thường xuyên đau ốm nhưng anh luôn luôn vui vẻ lạc quan. Để rèn luyện thể lực, anh tập chạy tại chỗ, rồi bệnh cũng lui dần. Chân anh không thể trở lại như người bình thường được nhưng anh khỏe khoắn hơn, không ốm đau thường xuyên như trước. Anh nhận bằng tốt nghiệp kĩ sư loại giỏi và được một công ty phần mềm danh tiếng tuyển dụng. Hiện nay anh đã lập gia đình và có một cậu con trai kháu khỉnh. Có những người kém may mắn, bị bệnh tật nhưng họ vẫn sống tốt và có nhiều công sức đóng góp cho cuộc đời. Họ học tập, rèn luyện, làm việc, cải thiện đời sống của chính họ và cống hiến trí tuệ cho cuộc sống tiến bộ của nhân loại. Những tấm gương như anh Danh luôn luôn nhắc nhở chúng em phải học tập, rèn luyện và không bao giờ được lười biếng, ỷ lại; phải trau dồi bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. 10

