Báo cáo sáng kiến: Phát triển năng lực toán học cho học sinh Lớp 5 bằng các phương pháp dạy học tích cực - Lâm Phước Thuận

pdf 11 trang Minh Sáng 07/02/2026 10
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo sáng kiến: Phát triển năng lực toán học cho học sinh Lớp 5 bằng các phương pháp dạy học tích cực - Lâm Phước Thuận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_sang_kien_phat_trien_nang_luc_toan_hoc_cho_hoc_sinh.pdf

Nội dung tài liệu: Báo cáo sáng kiến: Phát triển năng lực toán học cho học sinh Lớp 5 bằng các phương pháp dạy học tích cực - Lâm Phước Thuận

  1. 3 b. Điểm mới: Trong giải pháp này, tôi sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực với nhau. Trong đó, tôi chú trọng phương pháp trực quan, thực hành - luyện tập, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, kĩ thuật mảnh ghép, khăn trải bàn, xoay ổ bi,... Thông qua phương pháp và kĩ thuật áp dụng giúp học sinh hình thành được năng lực tư duy, lập luận toán học một cách nhanh chóng và hiệu quả. Để tạo cơ hội cho học sinh phát triển năng lực sử dụng công cụ, phương tiện toán học, tôi tăng cường sử dụng hiệu quả đồ dùng được cấp, mô hình, vật thật, đồ dùng tự làm để hình thành các khái niệm toán học. Cá thể hóa việc dạy học, dạy theo nhu cầu của học sinh qua đó, học sinh thấy được toán học rất gần gũi, rất thú vị và cần thiết để học. c. Hiệu quả mang lại: Học sinh có khả năng đọc hiểu bài toán, phân tích được bài toán, khai thác được mối quan hệ của các yếu tố trong bài toán để lựa chọn công cụ, phương tiện giải bài toán đó. Bằng các phương pháp dạy học tích cực, học sinh đã chiếm lĩnh được kiến thức toán học. Các em không còn nhút nhát, thụ động tiếp nhận kiến thức. Giờ đây, học sinh phát triển được các năng lực toán học góp phần hình thành ở học sinh năng lực tư duy và lập luận toán học, học sinh tóm tắt được bài toán, lập luận chặt chẽ, xác định đúng dạng toán, giải toán linh hoạt, sáng tạo trong cách giải, vận dụng được kiến thức vào cuộc sống. Kết quả rèn luyện của học sinh lớp tôi cuối năm như sau: Mức độ Nội dung khảo Thời gian STT Cần sát áp dụng Tốt % Đạt % cố % gắng Trước khi 7 18,9 19 51,4 11 29,7 Năng lực tư duy áp dụng 1 và lập luận toán Sau khi áp học 18 48,6 19 51,4 0 0 dụng Trước khi 7 18,9 21 56,7 9 24,4 Năng lực giải áp dụng 2 quyết vấn đề toán Sau khi áp học 15 40,5 22 59,5 0 0 dụng Trước khi 6 16,2 13 35,2 18 48,6 Năng lực giao áp dụng 3 tiếp toán học Sau khi áp 13 35,2 24 64,8 0 0 dụng
  2. 4 Mức độ Nội dung khảo Thời gian STT Cần sát áp dụng Tốt % Đạt % cố % gắng Trước khi 9 24,3 15 40,5 13 35,2 Năng lực sử dụng áp dụng 4 công cụ, phương Sau khi áp tiện toán học 20 54,1 17 45,9 0 0 dụng Phạm vi ứng dụng, triển khai thực hiện: Với những gì tôi đã làm và qua những kết quả mà lớp tôi đã đạt được, Ban giám hiệu trường đã yêu cầu tôi mở chuyên đề về “Phát triển năng lực toán học cho học sinh lớp Năm bằng các phương pháp dạy học tích cực”. Qua đó tôi và hội đồng giáo viên trường đã cùng nhau trao đổi, rút kinh nghiệm và cũng đã áp dụng rộng rãi trong toàn trường, mang lại hiệu quả rất thiết thực cho các lớp. Sáng kiến này đã được Hiệu trưởng Trường Tiểu học Phan Văn Năm công nhận theo Quyết định số: 48/QĐ-PVN, ngày 16/5/2024 2. Phạm vi ảnh hưởng 2.1. Ứng dụng trong cơ quan, đơn vị, địa phương: Sáng kiến này được áp dụng tại Khối Năm của Trường Tiểu học Phan Văn Năm và đạt hiệu quả tốt: 100% học sinh phát triển được các năng lực toán học và giải toán thành thạo. 2.2. Ứng dụng hoặc đã chuyển giao ứng dụng ngoài phạm vi cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh: Sáng kiến này được áp dụng tại lớp Năm/2 của Trường Tiểu học Trần Bình Trọng và kết quả rèn luyện của 33 học sinh lớp Năm /2 cuối năm học 2023-2024 như sau: Mức độ Nội dung khảo Thời gian STT Cần sát áp dụng Tốt % Đạt % cố % gắng Trước khi 7 18,2 16 48,5 10 30,3 Năng lực tư duy áp dụng 1 và lập luận toán Sau khi áp học 18 54,5 15 45,5 0 0 dụng Trước khi 8 24,3 16 48,5 9 27,2 Năng lực giải áp dụng 2 quyết vấn đề toán Sau khi áp học 17 51,5 16 48,5 0 0 dụng
  3. 5 Mức độ Nội dung khảo Thời gian STT Cần sát áp dụng Tốt % Đạt % cố % gắng Trước khi 8 24,3 13 39,3 12 36,4 Năng lực giao áp dụng 3 tiếp toán học Sau khi áp 20 60,6 13 39,4 0 0 dụng Trước khi 10 30,3 12 36,4 11 33,3 Năng lực sử dụng áp dụng 4 công cụ, phương Sau khi áp tiện toán học 23 69,7 10 30,3 0 0 dụng Qua kết quả trên cho thấy năng lực toán học của học sinh ngày càng được phát triển. Học sinh học toán với tâm thế sẵn sàng, chủ động, tư duy nhanh nhạy và sáng tạo hơn. Điều đó chứng tỏ sáng kiến: “Phát triển năng lực toán học cho học sinh lớp Năm bằng các phương pháp dạy học tích cực” đã được cô Huỳnh Ngọc Hân áp dụng có hiệu quả tốt. 2.3. Ứng dụng hoặc đã chuyển giao ứng dụng ngoài phạm vi cơ quan, đơn vị, địa phương ngoài tỉnh: sáng kiến này được đăng lên cổng thông tin điện tử của nhà trường để các đồng nghiệp khác trong, ngoài thị xã cũng như trong tỉnh tham khảo áp dụng cho bản thân và được đánh giá tốt. C. Khả năng mở rộng phạm vi ảnh hưởng, tiềm năng khai thác hiệu quả của sáng kiến, đề tài Qua các giải pháp được nêu trên trong những lần họp tổ chuyên môn tôi đã triển khai, chia sẻ cho các anh em đồng nghiệp đã được sự đồng tình, đánh giá cao về khả năng áp dụng của sáng kiến. Bản thân tôi mạnh dạn đưa sáng kiến này lên cổng thông tin điện tử của nhà trường để các đồng nghiệp khác trong và ngoài thị xã cũng như các trường bạn trong tỉnh tham khảo áp dụng cho bản thân. Với những biện pháp và cách làm như trên, bản thân thiết nghĩ mỗi giáo viên trong địa bàn thị xã và tỉnh có thể triển khai, thực hiện hiệu quả ở khối Năm và mở rộng đến các khối lớp khác trong toàn cấp của bậc Tiểu học. Bởi vì, cách làm này trên thực tế mỗi giáo viên đều có đủ điều kiện để thực hiện và phù hợp với năng lực của tất cả giáo viên hiện nay. Nhưng tùy tình hình thực tế ở mỗi trường, mỗi lớp học, tùy tình hình từng đối tượng học sinh mà giáo viên có thể vận dụng, linh hoạt, sáng tạo sao cho mang lại hiệu quả như mong muốn. Người báo cáo sáng kiến Lâm Phước Thuận
  4. 6 Xác nhận của Hiệu trưởng Trường tiểu học Phan Văn Năm
  5. UBND THỊ XÃ BÌNH MINH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG TIỂU HỌC Độc lập – Tự do – Hạnh phúc PHAN VĂN NĂM GIẤY CHỨNG NHẬN SÁNG KIẾN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC PHAN VĂN NĂM Chứng nhận Ông Lâm Phước Thuận, Giáo viên Trường Tiểu học Phan Văn Năm, xã Đông Thạnh, thị xã Bình Minh Là tác giả của sáng kiến: “Phát triển năng lực toán học cho học sinh lớp Năm bằng các phương pháp dạy học tích cực” Số: 01/48/QĐ-PVN Đông Thạnh., ngày 16 tháng 5 năm 2024 HIỆU TRƯỞNG
  6. Giấy chứng nhận sáng kiến số: 01/48/QĐ-PVN 1. Tóm tắt nội dung sáng kiến: Việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh còn khá mới mẻ với đa số giáo viên và học sinh tiểu học. Học sinh đã quen với việc học nặng về kiến thức nên trong việc học khá thụ động và máy móc, chưa mạnh dạn, tự tin và sáng tạo trong việc tìm ra kiến thức mở, chưa được trải nghiệm trong thực tế cuộc sống. Qua dạy học đầu năm, tôi thấy học sinh chưa chủ động khám phá kiến thức mới, kĩ năng giải toán chậm. Tôi đã tiến hành kháo sát và thu được kết quả: Mức độ TT Nội dung khảo sát Số lượng Cần cố Tốt % Đạt % gắng % 1 Năng lực tư duy và lập luận toán học 37 học sinh 7 18,9 19 51,4 11 29,7 2 Năng lực giải quyết vấn đề toán học 37 học sinh 7 18,9 21 56,7 9 24,4 3 Năng lực giao tiếp toán học 37 học sinh 6 16,2 13 35,2 18 48,6 Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện toán 4 37 học sinh 9 24,3 15 40,5 13 35,2 học Vậy việc dạy môn học môn Toán như thế nào để giúp các em vừa chiếm lĩnh được kiến thức vừa phát triển toàn diện về năng lực, phẩm chất trở thành những công dân trong thời đại mới? Đó là câu hỏi tôi đang trăn trở, vì vậy, tôi đã thực hiện sáng kiến “Phát triển năng lực toán học cho học sinh lớp Năm bằng các phương pháp dạy học tích cực” góp phần phát triển năng lực toán học để học sinh học toán tốt hơn và việc dạy học Toán lớp Năm đạt hiệu quả cao hơn góp phần thực hiện Chương trình phổ thông 2018. Trong sáng kiến này, tôi đã thực hiện nhiều giải pháp để phát triển năng lực toán học cho học sinh của lớp mình như sau:
  7. Giải pháp 1: Khai thác các yếu tố thực tiễn: Tôi thiết kế, tổ chức các hoạt động học toán, giải toán trên cơ sở khai thác yếu tố thực tiễn, gần gũi cuộc sống để học sinh thực hành trải nghiệm, so sánh, phân tích, tổng hợp, để hình thành tri thức mới. Các hoạt động được thiết kế gần gũi để học sinh dễ nhận dạng, dễ thực hiện, cụ thể hóa để lĩnh hội tri thức và xem tri thức toán học là công cụ để giải quyết vấn đề thực tiễn. Giải pháp 2: Phối hợp nhiều phương pháp dạy học Toán: Việc vận dụng phối hợp nhiều phương pháp dạy học trong một bài học toán nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh đầy đủ tri thức của bài học. Tùy nội dung, tình huống cụ thể của mỗi bài mà lựa chọn các phương pháp phù hợp để hình thành các năng lực và phẩm chất cho học sinh. Tôi sử dụng các phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, phương pháp hỏi - đáp, phương pháp trực quan, phương pháp thực hành - luyện tập,... để học sinh chủ động học toán, chủ động khám phá tri thức mới, tăng tính tương tác giữa giáo viên - học sinh, giữa học sinh - học sinh. Giải pháp 3: Kết hợp các kĩ thuật dạy học tích cực: Để tiết học đạt hiệu quả, tôi sử dụng kết hợp các kĩ thuật dạy học như khăn trải bàn, mảnh ghép, xoay ổ bi,... để các em hứng thú với bài học, góp phần phát triển năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề sáng tạo. Bên cạnh đó, ở mỗi bài học, tôi tổ chức các trò chơi học tập để học sinh cùng khởi động vào bài mới hoặc để khám phá kiến thức mới hoặc củng cố bài. Giải pháp 4: Sử dụng hiệu quả các thiết bị và đồ dùng dạy học: Các thiết bị và đồ dùng dạy học đã hỗ trợ rất lớn trong việc học toán của học sinh. Nhờ đó, học sinh hiểu và khắc sâu kiến thức, thực hiện giải toán một cách thành thạo cũng như vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Qua đó, học sinh sẽ được hình thành và phát triển các năng lực toán học cần thiết trong học toán. Giải pháp 5: Cá thể hóa việc dạy học, dạy theo nhu cầu của học sinh: giáo viên sẽ dành thời gian tập trung cho bài giảng tổng quát và giúp đỡ từng em khi không theo kịp bài giảng. Với tư cách là mô hình lớp học nhỏ, mỗi cá nhân được xuất hiện nhiều hơn, những học sinh chậm tiếp thu sẽ được bồi dưỡng nhiều hơn. Giáo viên chú trọng đến ưu và nhược điểm cũng như năng lực riêng của mỗi học sinh. Phương pháp này không chỉ truyền đạt cho cả lớp, theo dõi tổng quan cả lớp mà giáo viên sẽ đưa ra những định hướng, kế hoạch phát triển từng cá nhân sao cho phù hợp với trình độ, kỹ năng cũng như định hướng của từng học sinh. * Điểm mới của sáng kiến: Trong giải pháp này, tôi sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực với nhau. Trong đó, tôi chú trọng phương pháp trực quan, thực hành - luyện tập, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, kĩ thuật mảnh ghép, khăn trải bàn, xoay ổ
  8. bi, ... Thông qua phương pháp và kĩ thuật áp dụng giúp học sinh hình thành được năng lực tư duy, lập luận toán học một cách nhanh chóng và hiệu quả. Để tạo cơ hội cho học sinh phát triển năng lực sử dụng công cụ, phương tiện toán học, tôi tăng cường sử dụng hiệu quả đồ dùng được cấp, mô hình, vật thật, đồ dùng tự làm để hình thành các khái niệm toán học. Cá thể hóa việc dạy học, dạy theo nhu cầu của học sinh qua đó, học sinh thấy được toán học rất gần gũi, rất thú vị và cần thiết để học. 2. Lợi ích kinh tế - xã hội có thể thu được do áp dụng sáng kiến: Nâng cao chất lượng giải toán học cũng chính là nâng cao chất lượng môn toán và các môn học khác nói chung. Giảm thời gian phải dành quá nhiều cho việc rèn luyện trong tất cả các giờ luyện tập cho nội dung này, giáo viên có thể tận dụng không gian xung quanh để dạy học cho học sinh hỗ trợ việc tự làm đồ dùng dạy học cho giáo viên. Từ đó giờ học được nhẹ nhàng, học sinh học tốt hơn. Các em có hứng thú trong việc học tập, thích đến trường học, yêu quý thầy cô bạn bè. Vận dụng tốt phương pháp đã nêu ở trên giúp học sinh có sự thoải mái trong học tập, các em cảm thấy tự tin hơn trong quá trình học tập môn Toán, đặc biệt sẽ giúp các em vận dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn cuộc sống rất hữu ích, từ đó các em tự giác tích cực, chủ động hơn trong việc giải quyết vấn đề cũng như sau này trở thành những con người mạnh dạn, tự tin giao tiếp xã hội. Nói chung, trong quá trình giảng dạy phải áp dụng các giải pháp đã nêu trên một cách thường xuyên, phù hợp, nhẹ nhàng, không gây áp lực cho các em. Việc này, không chỉ dừng lại ở môn Toán mà các môn học khác cũng được vận dụng một cách khéo léo, phù hợp. Kết quả tôi thu được sau khi áp dụng sáng kiến như sau: Mức độ STT Nội dung khảo sát Thời gian áp dụng Cần Tốt % Đạt % cố % gắng Trước khi áp dụng 7 18,9 19 51,4 11 29,7 1 Năng lực tư duy và lập luận toán học Sau khi áp dụng 18 48,6 19 51,4 0 0
  9. Mức độ STT Nội dung khảo sát Thời gian áp dụng Cần Tốt % Đạt % cố % gắng Trước khi áp dụng 7 18,9 21 56,7 9 24,4 2 Năng lực giải quyết vấn đề toán học Sau khi áp dụng 15 40,5 22 59,5 0 0 Trước khi áp dụng 6 16,2 13 35,2 18 48,6 3 Năng lực giao tiếp toán học Sau khi áp dụng 13 35,2 24 64,8 0 0 Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện Trước khi áp dụng 9 24,3 15 40,5 13 35,2 4 toán học Sau khi áp dụng 20 54,1 17 45,9 0 0