Báo cáo sáng kiến: Ứng dụng một số trò chơi vận động vào chương trình học thể dục nhằm phát triển thể lực cho học sinh Lớp 4 Năm học 2022-2023 Trường Tiểu học Mỹ Hòa C - Lê Thị Bích Nhi

docx 6 trang Minh Sáng 15/01/2026 240
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo sáng kiến: Ứng dụng một số trò chơi vận động vào chương trình học thể dục nhằm phát triển thể lực cho học sinh Lớp 4 Năm học 2022-2023 Trường Tiểu học Mỹ Hòa C - Lê Thị Bích Nhi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_sang_kien_ung_dung_mot_so_tro_choi_van_dong_vao_chuo.docx

Nội dung tài liệu: Báo cáo sáng kiến: Ứng dụng một số trò chơi vận động vào chương trình học thể dục nhằm phát triển thể lực cho học sinh Lớp 4 Năm học 2022-2023 Trường Tiểu học Mỹ Hòa C - Lê Thị Bích Nhi

  1. và cách chơi sau đó cho HS điểm số rồi gọi một đôi lên chơi bằng cách chỉ dẫn cho 2 em đó cách chơi. Tiếp theo GV có thể gọi 1 - 2 đôi nữa lên chơi và tiếp tục giải thích cách chơi, sau đó cho các em chơi chính thức. - Phương pháp giảng giải minh họa: Sử dụng lời nói để nêu tên trò chơi, giải thích cách chơi, luật chơi và các trường hợp phạm quy trong quá trình chơi giúp học sinh nắm được mục đích, hiểu và nắm được từng phần của trò chơi, tạo điều kiện cho học sinh tiếp nhận trò chơi cơ bản chính xác, dễ hiểu để giúp học sinh nắm được những nét cơ bản về quá trình thực hiện trò chơi, tránh được những sai sót, lỗi phạm quy thường mắc phải trong quá trình chơi. Vì vậy lời giải thích của giáo viên có ý nghĩa đáng kể trong quá trình thực hiện tham gia trò chơi của học sinh. - Phương pháp kiểm tra sư phạm: Phương pháp kiểm tra sư phạm được sử dụng trong quá trình đánh giá thực trạng trình độ thể lực của học sinh Trường Tiểu học Mỹ Hòa C. Quá trình đánh giá hiệu quả thực nghiệm ứng dụng các giải pháp lựa chọn trong thực tế. Biện pháp sử dụng 04 Test theo quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 18 tháng 9 năm 2008, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cụ thể là: + Nằm ngửa gập bụng (lần/30s) + Bật xa tại chỗ (cm) + Chạy 30m XPC (s) +Chạy tùy sức 5 phút (m) Cách thực hiện cụ thể các test. Đây là test nằm ngửa gập bụng (lần/ 30 giây): 1. Yêu cầu dụng cụ: Đệm cao su hoặc ghế băng, chiếu cói, trên cỏ bằng phẳng, sạch sẽ. 2. Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra ngồi chân co 900 ở đầu gối, hai bàn chân áp sát sàn. Một học sinh khác hỗ trợ bằng cách hai tay giữ phần dưới cẳng chân, nhằm không cho bàn chân người được kiểm tra tách ra khỏi sàn. 3. Cách tính thành tích: Mỗi lần ngả người, co bụng được tính một lần. Tính số lần đạt được trong 30 giây. - Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Là phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu của biện pháp để phát triển thể lực cho học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Mỹ Hòa C. Trong nghiên cứu đã tổ chức thực nghiệm sư phạm theo hình thức so sánh trước thực nghiệm sư phạm, đã tiến hành xác định trình độ thể lực ban đầu của học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Mỹ Hòa C. Sau thực nghiệm sư phạm, tiến hành kiểm tra so sánh để làm rõ hiệu quả của các bài tập trò chơi vận động đến phát triển thể lực của học sinh. - Ứng dụng công nghệ thông tin: Khi hướng dẫn trò chơi giáo viên cần phải sử dụng những hình ảnh trực quan như: hình ảnh, video... để vừa giới thiệu vừa cho học sinh quan sát cách chơi mới bằng hình ảnh trực quan sinh động hơn. Phương pháp này giúp học sinh hình thành những khái niệm cơ bản về quá trình thực hiện trò chơi trên cơ sở quan sát trực tiếp hình ảnh. Nếu điều kiện cho phép chúng ta có thể sử dụng đoạn phim trình chiếu với tốc độ nhanh-chậm, với nhiều hướng khác nhau, cho hoc sinh xem điểm đúng - sai của từng quá trình diễn ra trò chơi để học sinh có thể quan sát cụ thể, sinh động hơn thao tác chơi, luật chơi, cách tiến hành trò chơi, cũng tạo sự hứng thú kích thích sự ham học của cho học sinh. - Phương pháp thị phạm: Khi giảng dạy hướng dẫn trò chơi giáo viên cần phải thị phạm cách thực hiện trò chơi, các trường hợp phạm quy trong quá trình chơi, thị phạm là yếu tố quan trọng nhất trong tiết dạy thể dục vì học sinh có thể quan sát trực tiếp và chính xác quy trình thực hiện
  2. trò chơi. Thị phạm ít nhất 1 - 2 lần và thực hiện cách chơi ở nhiều hướng và biên độ khác nhau cho học sinh quan sát nắm được tất cả quá trình chơi, trong khi thị phạm ta cần chỉ rõ những điểm khó và những chỗ thường sai của từng động tác cho học sinnh nắm, thị phạm xong cho học sinh chơi thử thực hiện lại trò chơi xem học sinh tiếp thu trò chơi thế nào, thực hiện đúng hay sai quá trình chơi, nếu sai thì sai ở điểm nào để có định hướng và có cách chỉ dẫn, sửa sai cho học sinh nắm rõ hơn. - Phương pháp thi đua, khen thưởng: Đây cũng là giải pháp rất quan trọng mà người giáo viên cần để khen ngợi khích lệ tinh thần tham gia trò chơi của các em tạo sự hưng phấn, kích thích hứng thú của các em. Đối với học sinh tiểu học thì các em rất thích được thi đua giữa các nhóm, các cá nhân tạo sự hứng khởi, khơi dậy sự cố gắng nổ lực mỗi học sinh. Để sử dụng có hiệu quả phương pháp thi đua khen thưởng, người giáo viên cũng cần chú ý đến đặc điểm tâm lý của các em. Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học thích được khen hơn là chê. Thực hiện tốt việc nhận xét, đánh giá học sinh thường xuyên theo VBHN 03 của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong từng tiết học, thường xuyên động viên, khuyến khích, quan tâm học sinh và sửa sai trực tiếp, kịp thời. * Giải pháp đối với học sinh: - Để tiết dạy đạt hiệu quả cao, học sinh hứng thú và tích cực tập luyện ta cũng rất cần chú ý đến đặc điểm tâm lý, sức khỏe của từng học sinh để đưa ra hình thức tập luyện hợp lý, cũng như các em khuyết tật để có cách tổ chức riêng cho các em tập với cường độ nhẹ hơn hoặc cho các bạn có sức khoẻ tốt giúp đỡ các em, giáo viên nên động viên khích lệ các em này. - Tạo điều kiện cho tất cả học sinh trong lớp được học tập và vui chơi phù hợp với trình độ, sức khỏe của các em, tạo cho các em một tinh thần thoải mái, vui vẻ, tích cực tập luyện nâng cao sức khoẻ cùng các bạn. Cá thể hóa dạy học: Đối với những học tiếp thu chậm thì giáo viên cần hướng dẫn riêng và gọi học sinh tiếp thu chậm lên cho chơi thử hướng dẫn kỹ từng các bước thực hiện trò chơi, chỉ ra chỗ khó các lỗi phạm quy mắc phải trong lúc tham gia gia trò chơi cho học sinh nắm, cần cho các em thực hiện trò chơi chậm từng phần để học sinh có thể nắm và chơi đúng luật chơi. * Công tác phối hợp - Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp: Là một giáo viên dạy chuyên thể dục, mỗi tuần một lớp chỉ tiếp xúc với các em học sinh được 2 tiết/tuần nên việc tìm hiểu về hoàn cảnh gia đình các em, thói quen học tập cũng như thái độ cư xử, hợp tác của các em với bạn bè, thầy cô...còn hạn chế, do đó việc thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm lớp là điều rất cần thiết. Thông qua giáo viên chủ nhiệm tôi được nắm nhiều hơn về tính cách, hoàn cảnh...của các em, tôi có thể khai thác khả năng học tập và tìm ra những khó khăn trong giờ học Thể dục của các em tốt hơn. Ngược lại, các thầy cô giáo viên chủ nhiệm sẽ kịp thời hỗ trợ, uốn nắn các em học sinh chưa tích cực trong học tập, cũng như cùng nhau đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhất giúp các em tập luyện tốt hơn, nhắc nhở và uốn nắn các em đến giờ học ra sân xếp hàng ngay ngắn, giữ trật tự khi ra học thể dục, chuẩn bị tốt đồng phục cho tiết học thể dục. Ngoài ra, giáo viên cần ghi nhận xét rõ ràng, cụ thể vào sổ nhật ký để giáo viên chủ nhiệm nắm được tình hình học tập của các em trong các tiết chuyên và kịp thời nhắc nhở, quản lý các em. - Phối hợp với chính quyền địa phương: Nhất là hội khuyến học để kịp thời động viên, khích lệ các em có hoàn cảnh khó khăn cũng như tặng tập, sách, đồng phục để các em có điều kiện tốt hơn đến trường.
  3. - Phối hợp với cha mẹ học sinh: Để cha mẹ có sự quan tâm hơn đến việc học tập của con em mình và động viên con em trong việc học tập cũng như trong môn thể dục cần tập thêm các nội dung đã học trong thời gian rãnh ở nhà. Cần phải quan tâm nhiều đến sức khoẻ của các em để các em có đủ sức khoẻ tập luyện hàng ngày. Tạo điều kiện cho các em vui chơi sau thời gian học tập và tập luyện mệt mỏi. - Phối hợp với tổng phụ trách: Phối hợp với tổng phụ trách để tuyên dương những học sinh có thành tích học tập tốt, nổi bật, cũng như có hình thức uốn nắn và có cách dạy phù hợp hơn. - Phối hợp với y tế: Để kịp thời giúp đỡ các em có sức khỏe không tốt hay các em bị chấn thương trong tập luyện. - Phối hợp với cán bộ thiết bị: Đây là vấn đề rất quan trọng và không thể thiếu trong mỗi tiết dạy, nhằm để kịp thời mượn các loại đồ dùng như: Tranh ảnh, dụng cụ,... phục vụ cho việc dạy và học của học sinh, nhằm chuẩn bị tốt cho tiết học được sinh động hơn, tạo sự thích thú, ham học cho học sinh. * Điểm mới của sáng kiến nêu trên là: - Cá thể hóa dạy học: Đối với những học tiếp thu chậm thì giáo viên cần hướng dẫn riêng và gọi học sinh tiếp thu chậm lên cho chơi thử hướng dẫn kỹ từng các bước thực hiện trò chơi, chỉ ra chỗ khó các lỗi phạm quy mắc phải trong lúc tham gia gia trò chơi cho học sinh nắm, cần cho các em thực hiện trò chơi chậm từng phần để học sinh có thể nắm và chơi đúng luật chơi. - Phương pháp phỏng vấn gián tiếp thông qua phiếu: Tôi lập biểu mẫu phỏng vấn, đối tượng phỏng vấn là những người có liên quan 20 giáo viên dạy Thể dục các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bình Minh và kinh nghiệm giảng dạy của bản thân qua các năm. Nhằm xây dựng và lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá thể lực chung cho sinh, lựa chọn các trò chơi vận động phù hợp áp dụng vào thực nghiệm. - Ứng dụng công nghệ thông tin: Khi hướng dẫn trò chơi giáo viên cần phải sử dụng những hình ảnh trực quan như: hình ảnh, video... để vừa giới thiệu vừa cho học sinh quan sát cách chơi mới bằng hình ảnh trực quan sinh động hơn. Phương pháp này giúp học sinh hình thành những khái niệm cơ bản về quá trình thực hiện trò chơi trên cơ sở quan sát trực tiếp hình ảnh. Nếu điều kiện cho phép chúng ta có thể sử dụng đoạn phim trình chiếu với tốc độ nhanh-chậm, với nhiều hướng khác nhau, cho hoc sinh xem điểm đúng - sai của từng quá trình diễn ra trò chơi để học sinh có thể quan sát cụ thể, sinh động hơn thao tác chơi, luật chơi, cách tiến hành trò chơi, cũng tạo sự hứng thú kích thích sự ham học của cho học sinh. 2. Lợi ích kinh tế - xã hội có thể thu được do áp dụng sáng kiến: Qua quá trình áp dụng các giải pháp trên vào việc giảng dạy tất cả học sinh rất ham thích luyện tập thể dục, các em rất hứng thú thường trông đến tiết học thể dục để được học, thể lực tăng lên rõ rệt qua từng giai đoạn. Kể cả học sinh sức khoẻ yếu, khuyết tật, các em đã nắm được các nội dung chương trình đã học. Tuy không đòi hỏi mức độ cao ở các em nhưng cũng đủ đảm bảo tốt về mặt kiến thức, sức khoẻ, tinh thần ý thức, tổ chức kỷ luật. Đây là cơ sở nền tảng vững chắc để các em bước lên lớp học trên tự tin hơn, tiến xa hơn. Mặc khác, chúng ta thấy lợi ích xã hội trong công tác phối hợp từ biện pháp mang lại rất lớn. Biện pháp không những nâng cao công tác giảng dạy còn nâng cao ý thức trách nhiệm của Cán bộ quản lý - giáo viên và phối hợp với phụ huynh trong công tác giảng dạy. Bảng 2: Thể lực chung học sinh nam – nữ khối 4 sau khi thực nghiệm. Đánh giá, phân loại thể lực
  4. TT CHỈ TIÊU KIỂM TRA Tốt Đạt Không đạt SL Tỷ lệ (%) SL Tỷ lệ (%) SL Tỷ lệ (%) Chạy 30m xuất phát cao (s) 28 76 9 24 / / Nam Bật xa tại chổ (cm) 26 70 11 30 / / (37 hs) Nằm ngửa gập bụng (lần/30s) 29 78 8 22 / / Chạy 5 phút tùy sức (m) 27 73 10 27 / / Chạy 30m xuất phát cao (s) 26 79 7 21 / / Nữ Bật xa tại chỗ (cm) 25 76 8 24 / / (33hs) Nằm ngửa gập bụng (lần/30s) 28 85 5 15 / / Chạy 5 phút tùy sức (m) 24 73 9 27 / / Kết quả sau khi thực nghiệm thể lực chung xếp loại: Tốt của học sinh nam Chạy 30m xuất phát cao (s) tăng 60%; Bật xa tại chổ (cm) tăng 61%; Nằm ngửa gập bụng (lần/30s) tăng 62%; Chạy 5 phút tùy sức (m) tăng 57%. Không còn học sinh không đạt. Kết quả sau khi thực nghiệm thể lực chung xếp loại: Tốt của học sinh nữ Chạy 30m xuất phát cao (s) tăng 67%; Bật xa tại chổ (cm) tăng 61%; Nằm ngửa gập bụng (lần/30s) tăng 70%; Chạy 5 phút tùy sức (m) tăng 61%. Không còn học sinh không đạt. Người thực hiện Lê Thị Bích Nhi