Bài giảng môn Tiếng Việt Lớp 5 - Tuần 3 - Năm học: 2021-2022 - Trường Tiểu học Lê Thánh Tông

pdf 12 trang Minh Sáng 08/12/2025 160
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng môn Tiếng Việt Lớp 5 - Tuần 3 - Năm học: 2021-2022 - Trường Tiểu học Lê Thánh Tông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfgiao_an_mon_tieng_viet_lop_5_tuan_3_nam_hoc_2021_2022_truong.pdf

Nội dung tài liệu: Bài giảng môn Tiếng Việt Lớp 5 - Tuần 3 - Năm học: 2021-2022 - Trường Tiểu học Lê Thánh Tông

  1. III. LUYỆN TỪ VÀ CÂU BÀI: MỞ RỘNG VỐN TỪ: NHÂN DÂN Câu 1: Xếp các từ ngữ trong ngoặc đơn vào nhóm thích hợp rồi ghi vào chỗ trống : (giáo viên, đại úy, trung sĩ, thợ điện, thợ cơ khí, thợ cấy, thợ cày, học sinh tiểu học, học sinh trung học, bác sĩ, kĩ sư, tiểu thương, chủ tiệm) a) Công nhân: ..................... b) Nông dân : ..................... c) Doanh nhân : .. ....................... d) Quân nhân : . .. ...................... e) Tri thức : .. ................... g) Học sinh : ..................... Câu 3. Đọc truyện Con Rồng cháu Tiên (Tiếng Việt 5, tập một, trang 27) và trả lời câu hỏi: a) Vì sao người Việt Nam ta gọi nhau là đồng bào? ................................................................................. b) Đánh dấu ✓ vào ô vuông trước những từ bắt đầu bằng tiếng đồng (có nghĩa là “cùng”), ví dụ : đồng hương (cùng quê), đồng lòng (cùng một ý chí). □ đồng môn □ đồng quê □ đồng ca □ đồng cảm
  2. □ đồng chí □ đồng ruộng □ đồng thanh □ đồng bằng □ đồng đội □ đồng nghĩa □ đồng hồ □ đồng tình □ đồng thau □ đồng âm □ đồng phục □ đồng ý □ đồng ngũ □ đồng tiền □ đồng hành □ đồng tâm c. Đặt câu với một trong những từ vừa tìm được. .. . BÀI: LUYỆN TẬP VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA Câu 1: Quan sát tranh ở SGK Tiếng Việt 5 tập 1 trang 33, đọc thầm đoạn văn rồi thực hiện yêu càu bài tập: Điền các từ xách, đeo, khiêng, kẹp, vác cho thích hợp với mỗi chỗ trống trong đoạn văn sau: Chúng tôi đang hành quân tới nơi cắm trại - một thắng cảnh của đất nước. Bạn Lệ ............ trên vai chiếc ba lô con cóc, hai tay vung vẩy, vừa đi vừa hát véo von. Bạn Thư điệu đà ............. túi đàn ghi ta. Bạn Tuấn "đô vật" vai ............ một thùng giấy đựng nước uống và đồ ăn. Hai bạn Tân và Hưng to, khoẻ cùng hăm hở ................ thứ đồ lỉnh kỉnh nhất là lều trại. Bạn Phượng bé nhỏ nhất thì ............... trong nách mấy tờ báo Nhi đồng cười, đến chỗ nghỉ là giở ra đọc ngay cho cả nhóm nghe. Câu 2: Các câu tục ngữ: Cáo chết ba năm quay đầu về núi; Lá rụng về cội; Trâu bảy năm còn nhớ chuồng có chung ý nghĩa. Đánh dấu ✓ vào ô vuông trước ý giải thích đúng ý nghĩa chung của ba câu tục ngữ trên: □ Loài vật thường nhớ nơi ở cũ. □ Làm người phải thuỷ chung. □ Gắn bó với quê hương là tình cảm tự nhiên. Câu 3: Dựa theo ý một khổ thơ trong bài Sắc màu em yêu, hãy viết một đoạn văn miêu tả màu sắc đẹp của những sự vật mà em yêu thích. Chú ý sử dụng những từ đồng nghĩa trong đoạn văn.
  3. IV. TẬP LÀM VĂN III. TẬP LÀM VĂN 1. Đọc bài văn Mưa rào (SGK Tiếng Việt 5 – Trang 31) và trả lời câu hỏi: a) Những dấu hiệu nào báo cơn mưa sắp đến? . . .. ... . b) Tìm những từ ngữ tả tiếng mưa và hạt mưa từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc cơn mưa? . . .. ... . . . c) Tìm những từ ngữ tả cây cối, con vật, bầu trời trong và sau trận mưa. . . .. ... . . . .. ... . d) Tác giả đã quan sát cơn mưa bằng những giác quan nào? . . .. ... .
  4. . . .. ... . 2. Từ những điều em đã quan sát được, hãy lập dàn ý bài văn miêu tả một cơn mưa. . . .. ... . . . .. ... . . . .. ... . . . .. ... . Bài: LUYỆN TẬP TẢ CẢNH Bài tập 1: - Đọc nội dung bài tập, chú ý yêu cầu đề bài: Tả quang cảnh sau cơn mưa. - Đọc thầm 4 đoạn văn để xác định nội dung chính của mỗi đoạn. + Đoạn 1: Giới thiệu cơn mưa rào- ào ạt tới rồi tạnh ngay. + Đoạn 2: Ánh nắng và các con vật sau cơn mưa. + Đoạn 3: Cây cối sau cơn mưa. + Đoạn 4: Đường phố và con người sau cơn mưa. -Học sinh chọn 1 trong 4 đoạn để hoàn chỉnh nội dung của đoạn:
  5. . . .. ... . . . .. ... . Bài tập 2: Đọc nội dung bài tập. Hoàn thành đoạn văn của em. . . .. ... . . . .. ... . . . .. ... .
  6. ĐÁP ÁN NỘI DUNG HỌC TẬP – TUẦN 3 MÔN: TIẾNG VIỆT I. TẬP ĐỌC Bài 1: Lòng dân (SGK Tiếng Việt 5 tập 1 – Trang 24;25;26 ) Bài 2: Lòng dân ( tiếp theo)(SGK Tiếng Việt 5 tập 1 – Trang 29;30;31) CÂU 1 2 3 4 5 6 ĐÁP ÁN C A C B B A Câu 7: Những chi tiết nào cho thấy dì Năm ứng xử rất thông minh? - Dì vờ hỏi chú cán bộ để giấy tờ chỗ nào, rồi nói tên tuổi của chồng, tên bố chồng để chú cán bộ biết mà nói theo. Câu 8: Vì sao vở kịch được đặt tên là Lòng dân? - Vì vở kịch thể hiện tấm lòng của người dân với cách mạng. Người dân tn yêu cách mạng sẵn sàng xả thân bảo vệ chú cán bộ cách mạng. Lòng dân là chỗ vựa vững chắc nhất của cách mạng. III. LUYỆN TỪ VÀ CÂU BÀI: MỞ RỘNG VỐN TỪ: NHÂN DÂN Câu 1: Xếp các từ ngữ trong ngoặc đơn vào nhóm thích hợp rồi ghi vào chỗ trống : (giáo viên, đại úy, trung sĩ, thợ điện, thợ cơ khí, thợ cấy, thợ cày, học sinh tiểu học, học sinh trung học, bác sĩ, kĩ sư, tiểu thương, chủ tiệm) a) Công nhân: thợ điện, thợ cơ khí b) Nông dân : thợ cấy, thợ cày c) Doanh nhân : tiểu thương, chủ tiệm d) Quân nhân : đại úy, trung sĩ e) Tri thức : giáo viên, bác sĩ, kĩ sư g) Học sinh : học sinh tiểu học, học sinh trung học Câu 3. a. Người Việt Nam gọi nhau là đồng bào vì đều được sinh ra từ bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ. b. Đánh dấu: ✓ đồng môn ✓ đồng quê ✓ đồng ca ✓ đồng cảm ✓ đồng chí □ đồng ruộng ✓ đồng thanh □ đồng bằng ✓ đồng đội ✓ đồng nghĩa □ đồng hồ ✓ đồng tình □ đồng thau ✓ đồng âm ✓ đồng phục ✓ đồng ý ✓ đồng ngũ □ đồng tiền ✓ đồng hành ✓ đồng tâm c. Câu tham khảo: Vào buổi sáng thứ 2 hàng tuần, chúng em đều mặc đồng phục của trường. Tất cả chúng em đồng thanh hát vang bài Quốc ca. .. .
  7. BÀI: LUYỆN TẬP VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA Câu 1. Điền các từ xách, đeo, khiêng, kẹp, vác thích hợp với mỗi chỗ trống trong đoạn văn sau: Chúng tôi đang hành quân tới nơi cắm trại - một thắng cảnh của đất nước. Bạn Lệ đeo trên vai chiếc ba lô con cóc, hai tay vung vẩy, vừa đi vừa hát véo von. Bạn Thư điệu đà xách túi đàn ghi ta. Bạn Tuấn "đô vật" vai vác một thùng giấy đựng nước uống và đồ ăn. Hai bạn Tân và Hưng to, khoẻ cùng hăm hở khiêng thứ đồ lỉnh kỉnh nhất là lều trại. Bạn Phượng bé nhỏ nhất thì kẹp trong nách mấy tờ báo Nhi đồng cười, đến chỗ nghỉ là giở ra đọc ngay cho cả nhóm nghe. Câu 2. Các câu tục ngữ trên có chung ý nghĩa là: □ Loài vật thường nhớ nơi ở cũ. □ Làm người phải thuỷ chung. ✓ Gắn bó với quê hương là tình cảm tự nhiên. Câu 3. Đoạn văn tham khảo: Có những màu sắc lộng lẫy, sang trọng nhưng cũng có màu sắc bình dị, thanh tao. Em rất yêu màu đen. Gây ấn tượng nhất là màu đen nhánh của than – vàng đen của tổ quốc, màu đen láy của đôi mắt em bé. Bầu trời khi sắp có cơn mưa lớn, những đám mây bỗng chuyển thành một màu đen kịt. IV. TẬP LÀM VĂN III. TẬP LÀM VĂN 1. a) Những dấu hiệu báo hiệu cơn mưa sắp đến: - Mây: Bay về, những đám mây lớn nặng và đặc xịt lổm ngổm đầy trời. Mây tản ra từng đám nhỏ rồi san đều trên một nền đen xám xịt. - Gió: Thổi giật mãi, mát lạnh, nhuốm hơi nước, gió càng thêm mạnh, mặc sức điên đảo trên cành cây. b) Những từ ngữ tả tiếng mưa và hạt mưa từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc mưa: Tiếng mưa : - Lúc đầu: lẹt đẹt... lẹt đẹt... lách tách. - Về sau: Mưa ù xuống, rào rào, sầm sập, đồm độp, đập bùng bùng vào lòng lá chuối; giọt tranh đổ ồ ồ. Hạt mưa: Ban đầu là những giọt nước lăn xuống mái phên nứa, mấy giọt lách tách, rồi tuôn rào rào; mưa xiên xuống, lao xuống, lao vào trong bụi cây. Mưa xuống sầm sập, hạt mưa giọt ngã, giọt bay, bụi nước toả trắng xóa. c) Những từ ngữ tả cây cối, con vật, bầu trời trong và sau trận mưa: Trong trận mưa: - Lá đào, lá na, lá sói: vẫy tai run rẩy. - Con gà sống: ướt lướt thướt ngật ngưỡng tìm chỗ trú. - Trong nhà: bỗng tối sầm, một mùi nồng ngai ngái. - Nước: chảy đỏ ngòm bốn bề sân cuồn cuộn dồn vào các rãnh cống, đổ xuống ao chuôm. - Mưa xối được một lúc thì bỗng trong vòm trời tối thẫm vang lên một hồi ục ục ì ầm. Tiếng sấm của những cơn mưa đầu mùa.
  8. Sau trận mưa: - Trời rạng dần. - Chim chào mào bay ra hót râm ran. - Phía đông một mảng trời trong vắt. - Mặt trời ló ra, chói lọi trên những vòm lá bưởi lấp lánh. d) Tác giả quan sát sau cơn mưa bằng những giác quan: - Bằng mắt (thị giác): thấy được những đám mây thay đổi trước cơn mưa, nhìn thấy mưa rơi, thấy những thay đổi của cây cối, con vật, bầu trời, cảnh tượng xung quanh. - Bằng tai (thính giác): nghe thấy tiếng gió thổi, âm thanh của tiếng mưa, tiếng sấm, tiếng hót cùa chim chào mào. - Bằng cảm giác cùa làn da (xúc giác): cảm thấy sự mát lạnh của làn gió nhuốm hơi nước. - Bằng mũi (khứu giác): biết được mùi nồng ngai ngái, xa lạ, man mác của những trận mưa đầu mùa. Như vậy, ta thấy cùng một lúc tác giả Tô Hoài đã sử dụng nhiều giác quan khác nhau để quan sát cơn mưa từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc, quan sát rất tinh tế, cách dùng từ ngữ cũng rất chính xác và sinh động. Chính vì thế, bài văn tả cảnh mưa rào cùa tác giả đã đem đến cho người đọc nhiều điều thú vị. 2. a) Mở bài: Trời oi bức, đứng gió, không khí ngột ngạt. Mây đen từ phía chân trời kéo về. Bầu trời tối sầm lại. b) Thân bài: * Diễn biến của cơn mưa: - Một vài hạt mưa bắt đầu rơi. - Gió thổi ào ào, cây cối nghiêng ngả. - Mưa nặng hạt dần. Mưa rơi lộp độp. - Mưa xối xả, mưa như trút nước. - Cây cối trong vườn ngả nghiêng trong ánh chớp sáng loá và tiếng sấm ì ầm lúc gần, lúc xa. - Ngồi trong nhà nhìn ra thấy một màn mưa trắng xóa. Giữa nền trời tối đen, lâu lâu một vệt chớp loằng ngoằng sáng chói như muốn xé toang bầu trời âm u. Tiếp theo là tiếng sấm ầm ầm, khiến cho mọi người giật mình. - Dòng nước mưa từ trên cao trút xuống lấp lánh như bạc, nước chảy lênh láng khắp sân nhà, ngõ xóm. - Mưa mỗi lúc một to, gió lay giật các cửa và rít từng hồi trên mái nhà. - Hơi nước mát lạnh cùng mùi đất cát bốc lên ngai ngái, thân quen. * Sau cơn mưa: - Lá vàng rơi đầy sân. Những tàu lá chuối rách lả tả, trên lá khoai nước còn đọng lại giọt nước mưa óng ánh.. - Đàn gà cục cục gọi nhau đi tìm giun, dế. - Trời trong veo không một gợn mây. c) Kết bài: Cơn mưa đem lại sự mát dịu cho con người và cảnh vật, xua đi cái nóng ngột ngạt của buổi trưa hè.
  9. GỢI Ý VIẾT ĐOẠN VĂN Bài: LUYỆN TẬP TẢ CẢNH Bài tập 1: Đoạn 1: Lộp độp, lộp độp. Mưa rồi. Cơn mưa ào ào đổ xuống làm mọi hoạt động dường như ngừng lại. Mưa ào ạt. Từ trong nhà nhìn ra đường chỉ thấy một màn nước trắng xóa, những bóng cây cối ngả nghiêng, mấy chiếc ô tô phóng qua, nước tóe lên sau bánh xe. Một lát sau mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn. Đoạn 2: Ánh nắng lại chiếu sáng rực rỡ trên những thảm cỏ xanh. Nắng lấp lánh như đùa giỡn, nhảy nhót với những gợn sóng trên dòng sông Nhuệ. Mấy chú chim không rõ tránh mưa ở đâu giờ đang đậu trên cành cây cất tiếng hót véo von. Chị gà mái tơ rời khỏi bụi cây góc vườn vừa luôn mồm cục cục nhắc nhở đàn con vừa tranh thủ giũ giũ bộ lông ướt sũng. Đàn gà con với bộ lông vàng óng còn khô nguyên tung tăng chạy nhảy. Chú mèo khoang co ro từ trong bếp bước ra ngoài sân khoan thai đi lại dưới ánh nắng mặt trời ra vẻ khoan khoái lắm. Đoạn 3: Sau cơn mưa có lẽ cây cối, hoa lá là tươi đẹp hơn cả. Những hàng cây ven đường được tắm gội thoả thuê, gột rửa hết bụi bặm thường ngày trở nên xanh biếc. Những cây hoa thược dược, hoa hồng,... cho đến cả những cây rau trong vườn vốn bình dị là thế mà giờ đây tràn đầy kiêu hãnh mơn mởn khoe sắc, toả hương. Đoạn 4: Con đường trước cửa đang khô dần. Trên con đường, xe cộ lại nườm nượp như mắc cửi. Tiếng còi, tiếng máy, tiếng người cười nói, tiếng đi lại rộn rịp. Con đường như tươi trẻ hả hê hơn khi trở về với nhịp sống hối hả vốn có thường ngày. Góc phố, mấy cô bé đang chơi nhảy dây. Những bím tóc tun ngủn vung vẩy theo từng nhịp chân nhảy. Bài tập 2: Đoạn 1: Mùa xuân xôn xao, phơi phới. Những hạt mưa bé nhỏ, mềm mại, rơi mà như nhảy nhót. Hạt nọ tiếp hạt kia đậu xuống lá cây ổi còng mọc lả xuống mặt ao. Mùa đông xám xỉn và khô héo đã qua. Mặt đất đã kiệt sức bừng thức dậy, âu yếm đón lấy những hạt mưa ấm áp, trong lành. Đất trở lại dịu mềm, lại cần mẫn tiếp nhựa cho cây cỏ. Mưa mùa xuân đã mang lại cho chúng cái sức sống ứ đầy, tràn trên những nhánh lá, mầm non. Và cây trả nghĩa cho mưa bằng cả mùa hoa thơm, trái ngọt. Đoạn 2: Mưa xuân không vội vã, ồn ào như mưa hạ. Mưa xuân dịu dàng, chầm chậm, mang đến cảm giác bình yên và thư thái trong tâm hồn. Những hạt mưa bắt đầu rơi, hạt mưa nhỏ, lất phất trong gió, vương những giọt long lanh trên cánh đào mỏng manh, trên
  10. những chồi non cây lá. Mưa phảng phất trong không gian ấm áp của mùa xuân, nhè nhẹ, nhè nhẹ. Mưa dần buông những hạt cuối cùng, vạn vật được mưa tắm mát trở nên căng tràn sức sống. Cánh mai vàng nhờ thưởng thức hạt ngọc tinh túy của bầu trời mà tươi tắn hơn. Đoạn 3: Những hạt mưa đầu tiên bắt đầu rơi xuống, tí tách trên mái hiên nhà em, rơi lộp bộp trên những tàu lá chuối. Mưa dần to hơn, chúng thi nhau rơi xuống, nhảy nhót, nô đùa khắp con đường làng, khiêu vũ trên từng hàng cây, bãi cỏ. Mấy bác nông dân vội vã chạy mưa để tránh mình bị ướt. Một vài chú bê ngoài đồng vẫn chẳng lo sợ, thong dong gặm cỏ, tận hưởng vị tươi mát của đất trời. Cơn mưa đến nhanh và đi cũng vội vã, mưa ngớt, bầu trời tạnh hẳn, màu trời lại xanh trong. Ánh cầu vồng lung linh hiện lên khoe vẻ rực rỡ của mình.